Následující text není historickou studií. Jedná se o převyprávění pamětníkových životních osudů na základě jeho vzpomínek zaznamenaných v rozhovoru. Vyprávění zpracovali externí spolupracovníci Paměti národa. V některých případech jsou při zpracování medailonu využity materiály zpřístupněné Archivem bezpečnostních složek (ABS), Státními okresními archivy (SOA), Národním archivem (NA), či jinými institucemi. Užíváme je pouze jako doplněk pamětníkova svědectví. Citované strany svazků jsou uloženy v sekci Dodatečné materiály.
Pokud máte k textu připomínky nebo jej chcete doplnit, kontaktujte prosím šéfredaktora Paměti národa. (michal.smid@ustrcr.cz)
Tập trung vào nhân quyền và dân chủ
+ Vũ Quí Hạo Nhiên năm 1964 tại Sài Gòn trong một gia đình di cư từ miền Bắc. + Tháng 3 năm 1975, ông phải gián đoạn việc học sau sự kiện Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập; cha ông bị đưa đi trại cải tạo cùng năm đó. + Năm 1982, gia đình ông rời Việt Nam sang Hoa Kỳ sau khi được cấp giấy xuất cảnh, thay đổi điểm đến trước đó là Pháp. + Năm 1989, ông chuyển đến Nam California làm việc. + Đầu những năm 2000, ông bắt đầu sự nghiệp báo chí, làm việc cho các tờ báo Việt ngữ như Mimi News và Người Việt, và góp phần phát triển mảng phóng sự chuyên sâu cho Người Việt. + Ông kết bạn và gặp gỡ nhiều blogger, nhà hoạt động Việt Nam, trong đó có Điếu Cày và Phạm Đoan Trang, qua Internet.
Vũ Quí Hạo Nhiên sinh năm 1964 tại Sài Gòn, trong một gia đình gốc Bắc di cư. Cha ông quê Nam Định, và mẹ quê Hà Nội. Thời thơ ấu của ông hoàn toàn ở miền Nam, không có trải nghiệm nào về miền Bắc. Trước năm 1975, cả cha mẹ ông đều là giảng viên đại học tại trường y khoa. Năm 1975 xảy ra khi ông mới 11 tuổi và đang học tại trường Lê Quý Đôn, nằm đối diện Dinh Độc Lập trên đường Hồng Thập Tự. Ông nhớ rõ sự kiện tình báo viên của miền Bắc Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập vào tháng 3/1975, khiến toàn bộ học sinh trong trường phải di tản để tránh nguy hiểm. Sự kiện này làm gián đoạn việc đi học của ông.
Nhà ông nằm trong khu dân cư mà phần lớn là nơi các sĩ quan quân đội, từ cấp tá đến cấp tướng, sinh sống. Chỉ có hai hộ là dân sự. Các cuộc pháo kích của cộng sản cũng nhắm đến vào khu vực này. Ngày 30/4/1975, gia đình ông lánh nạn tại Bệnh viện Saint Paul ngay lúc Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong những ngày cuối cùng đó, ông chứng kiến cảnh binh lính bỏ chạy tán loạn và một người lính bị thương nặng, máu me toàn thân, được đưa vào bệnh viện. Khi trở về nhà, ông thấy nhà của một vị tướng gần đó bị bể mái, và một viên đạn xuyên thủng tường nhà ông. Ông cũng chứng kiến nạn hôi vào chiều 30/4 khi người dân xông vào những nhà bị bỏ hoang để lấy đồ đem đi. Cha ông, mang lon trung úy, bị gọi đi “học tập cải tạo” 10 ngày nhưng chỉ được thả về sau sáu tháng. Tuy vậy, cha ông vẫn may mắn hơn nhiều người, vốn phải ở trong trại cải tạo nhiều năm, có lẽ nhờ chuyên môn y khoa của ông. Bạn bè của ông thì kém may mắn hơn: nhiều người bị đưa đi “kinh tế mới”; có người là chủ doanh nghiệp thì bị tịch thu tài sản. Gia đình ông ở lại Việt Nam cho đến năm 1982.
Năm 1980, anh trai của ông đi vượt biên. Gia đình ông có hồ sơ bảo lãnh đi Pháp từ năm 1976 hoặc 1977, nhờ hai người cậu từng sang Pháp học tập và làm việc từ đầu thập niên 1950. Cho đến đầu những năm 1980, gia đình ông nhận được giấy phép xuất cảnh và quyết định sang Hoa Kỳ vào thời điểm Chương trình ra đi có trật tự (ODP) được triển khai. Ông đến Mỹ vào năm 1982, định cư tại bang Indiana. Không lâu sau, cha mẹ ông chuyển sang Nam California vì tin rằng ở đó sẽ dễ dàng trở lại sự nghiệp y khoa hơn nhờ vào mạng lưới đồng nghiệp cũ sống tại đó. Ông ở lại Indiana để hoàn thành bậc cử nhân và thạc sĩ, sau đó chuyển tới Nam California vào năm 1989.
Hơn bốn thập niên sống tại Hoa Kỳ, ông làm nhiều nghề khác nhau. Hiện nay ông là giáo viên dạy toán, nhưng trước đó ông từng làm toán thống kê cho một công ty bảo hiểm. Ông cũng hành nghề luật trong lĩnh vực bản quyền và sở hữu trí tuệ. Ông không ngờ rằng mình sẽ làm báo. Ban đầu, ông cộng tác với tờ Mimi News, tờ báo mà sau này đổi tên thành Viet Weekly, trước khi gia nhập báo Người Việt. Cơ duyên đến với Người Việt bắt đầu từ cha vợ ông, một trong những thành viên đầu tiên và là bạn của những người sáng lập. Lúc đầu, ông hỗ trợ các vấn đề pháp lý và kế toán vì nó phù hợp với chuyên môn của mình. Dần dần, ông tham gia vào các cuộc thảo luận của ban biên tập và sau đó bắt đầu cộng tác cho tờ báo. Theo ông, đóng góp quan trọng nhất của mình cho Người Việt là giúp xây dựng mảng phóng sự cộng đồng và phóng sự điều tra, là thứ không phổ biến trong báo chí tiếng Việt hải ngoại vào đầu những năm 2000.
Mạng Internet giúp ông kết nối với cộng đồng hoạt động xã hội, đặc biệt thông qua các nền tảng mạng xã hội đời đầu như Yahoo 360. Qua Yahoo 360, ông làm quen với những blogger nổi tiếng như Điếu Cày và Thiên Sầu, là một blogger ẩn danh mà thích cách viết châm biếm, hài hước. Năm 2007, ông gặp Điếu Cày ở Việt Nam. Ông cũng có quan hệ thân thiết với nhà báo Phạm Đoan Trang. Lần đầu hai người gặp mặt trực tiếp là khi Trang làm việc cho Voice. Sau đó, ông gặp Phạm Đoan Trang ở Quận Cam nhiều lần khi cô theo học tại Đại học Nam California.
Trong thời gian làm bạn, Hạo Nhiên thường đưa ra những lời khuyên cho Trang trong những quyết định quan trọng, chẳng hạn như nên ở lại Mỹ hay trở về Việt Nam. Ông nhớ rằng vào thời điểm cô quyết định quay về, ông cho rằng đó là lựa chọn đúng trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ. Tuy nhiên, khi nhìn lại, đặc biệt là sau khi cô ở tù, ông cho rằng đó là một sai lầm. Dù vậy, xét trên nhu cầu và hoàn cảnh chính trị của Việt Nam, ông vẫn khẳng định quyết định trở về của cô là “đúng”, dù cái giá phải trả là chính tự do của chính cô.
Từ kinh nghiệm nhiều thập niên làm báo, Hạo Nhiên nhận xét rằng nhiều nhà báo Việt Nam rất giỏi khai thác thông tin qua phỏng vấn, nhưng còn yếu trong việc thu thập và sử dụng thông tin từ tài liệu và chuyên gia. Ông cho rằng các phóng viên nên đào sâu ngay cả những đề tài tưởng chừng rất đời thường và không nhạy cảm như giao thông hay thương mại. Theo ông, cách tiếp cận này có thể nâng bài viết lên một tầm mới, ngay cả khi không trực tiếp đụng chạm đến các vấn đề nhạy cảm như chính trị hay hoạt động xã hội.
Khi được hỏi về tương lai của Việt Nam, Hạo Nhiên nhớ lại cuộc thi viết do báo Người Việt tổ chức vào giữa thập niên 1980 với chủ đề “Mùa hè 1999”. Nhiều bài dự thi được gởi đến trong thời gian những biến chuyển chính trị ở Đông Âu và Liên Xô xảy ra, đã lạc quan dự đoán Việt Nam cũng sẽ có thay đổi tương tự vào năm 1999. Thế nhưng bây giờ đã là năm 2025 và Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn giữ quyền lực. Ông nhấn mạnh rằng mục tiêu cần hướng đến là dân chủ và nhân quyền, chứ không phải chỉ tranh đấu cho sự sụp đổ của chế độ cộng sản. Ông dẫn lời Martin Luther King Jr.: Tiến độ của lịch sử có thể chậm, nhưng cái đường cong của lịch sử nó cong về phía công lý.
Ông tin rằng báo chí tự do là nền tảng cho một xã hội có nhân quyền và dân chủ. Ông khuyên các nhà báo trẻ hãy thực hành việc đưa tin một cách khách quan và trung thực, không sợ hãi trước áp lực từ chính quyền, sự biểu tình của công chúng hay phải ngồi tù. Dù cho rằng vẫn nên biết sợ những rủi ro hiện hữu, ông vẫn khuyến khích nhà báo viết ra sự thật và những điều khách quan, ngay cả khi phải đối diện với hiểm nguy. Ông đơn cử trường hợp của nhà báo Huy Đức, dù rất thông minh nhưng cuối cùng vẫn bị nhà cầm quyền bỏ tù. Theo ông, báo chí độc lập là yếu tố then chốt để thúc đẩy nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam.
Vũ Quí Hạo Nhiên was born in Sài Gòn, South Vietnam, in 1964 to a family of Northern origins. His parents were migrants, with his father from Nam Định and his mother from Hà Nội. He grew up entirely in the South, having no personal experience of the North. Before 1975, both of his parents were university lecturers at the University of Medicine. In 1975, at the age of 11, he was still in secondary education, attending Lê Quý Đôn School, which was located directly across from the Independence Palace on the Hồng Thập Tự street. He vividly recalls an incident around March 1975 when Nguyễn Thành Trung, a Nothern intelligence agent, bombed the Independence Palace. This event led to all students in classrooms facing the palace being moved to the other side of the school to seek shelter. It also temporarily disrupted his education.
His house was located in a local neighborhood home to many military officers, colonels and generals; only two households were civilian. This strategic location became a potential target of shellings by the communist forces. On April 30, 1975, his family sought refuge in Saint Paul Hospital when then South Vietnamese President Dương Văn Minh declared the surrender of the Republic of Vietnam to the communists. He witnessed soldiers fleeing in disarray and a wounded soldier, covered in blood, being brought into the hospital on those very last days. After returning home, Nhiên observed the destruction of his own neighborhood. He found the general’s house located nearby was damaged and a bullet pierced through the wall in his own home. He also witnessed the widespread looting that occurred on the evening of April 30, as people took belongings from abandoned houses. His father, a university lecturer who held a lieutenant rank, was called for reeducation, initially for 10 days. But eventually, he returned after six months, probably due to his medical background, which was considered a relatively short period compared to others who were detained for years. Many of his friends were less fortunate: some were sent to far-flung “new economic zones,” while others were business owners and had their assets confiscated. His family remained in Vietnam until 1982.
In 1980, Nhiên’s older brother left Vietnam by boat. His family had a sponsorship application to go to France since 1976 or 1977, thanks to two maternal uncles who had studied and worked there since the early 1950s. In the beginning of 1980s, they received exit permits and decided to change their destination to the United States. At that time, the ODP (Orderly Departure Program) was already in place. He arrived in the U.S. around 1982, initially settling in Indiana. His parents soon moved to California, believing it would be easier for his father to resume his medical career there due to strong networks of former professional colleagues. He stayed in Indiana to complete his bachelor‘s and master‘s degrees, and worked there for a year before moving to Southern California in 1989 for a job.
For more than four decades in the U.S., Nhiên has pursued a diverse professional career. Currently, he is a mathematics teacher, but he used to work as a statistical mathematician for an insurance company, and practiced law in intellectual property, specializing in copyright and trademarks. His entry into journalism was unexpected. He first contributed to Mimi News, a Vietnamese language newspaper based in the U.S., which later became Viet Weekly, before joining Người Việt. He was first involved with the Người Việt newspaper through his father-in-law, who was an early participant and friend of the founders. Initially, he assisted with legal and accounting matters because they were more closely related to his background. However, he started to engage in editorial discussions, which eventually led him to start writing for the newspaper. He believes his most significant contribution to Người Việt was in developing the section for in-depth community reports and investigative documentaries, a practice that was not common among overseas Vietnamese language newspapers in the early 2000s.
The introduction of the Internet allowed Nhiên to get in touch with the activist community, particularly through early social media platforms like Yahoo 360, which was popular among the Vietnamese users. Through Yahoo 360, he connected with well-known bloggers such as Điếu Cày and Thiên Sầu, an anonymous blogger whom he admired for his satirical writings. He met Điếu Cày in person in Vietnam in 2007. He also developed a close friendship with journalist Phạm Đoan Trang, whom he initially connected with online. He met her in person for the first time when she was working with Voice. Later, when Phạm Đoan Trang received a scholarship to study at the University of Southern California, she frequently visited Orange County, where he lived, as she felt her activism was more aligned with the Vietnamese community there.
When they were friends, Nhiên often provided Phạm Đoan Trang with different opinions when she faced critical decisions, such as whether to stay in the U.S. or return to Vietnam. He recalls that at the time of her decision to return to Vietnam, he believed it was the correct choice given the political context. However, in hindsight, especially after her imprisonment, he thinks of it as a mistake. But considering the needs and political circumstances of Vietnam at the time, he affirms that her decision to return was “correct,” although it cost her own freedom.
Drawing from his decades-long experience in journalism, Nhiên notes that while many Vietnamese journalists are skilled at gathering information through interviews, they often lack the ability to effectively gather and utilize information from documents and expert sources. He encourages them to dig deeper even into everyday, seemingly non-controversial topics like traffic or trade. By doing so, he believes, the journalists have elevated their stories to a whole new level even though it does not directly confront sensitive issues such as politics or activism.
When asked about the future of Vietnam, Nhiên recalls a writing competition organized by Người Việt newspaper in the mid-1980s, with the topic “Summer of 1999.” Many entries, inspired by the regime changes in Eastern Europe and the Soviet Union, optimistically predicted a similar political development in Vietnam by 1999. However, it is now 2025, and the Communist Party of Vietnam is still in power. He stresses that the goal should be democracy and human rights, rather than pushing for the collapse of the communist regime. He quoted Martin Luther King Jr. as saying, “The arc of the moral universe is long, but it bends towards justice.”
He believes that a free press is a cornerstone of a society with human rights and democracy. He advises journalists to practice objective and truthful reporting, without fear of repercussions from the government, public protests, or imprisonment. While acknowledging the inherent risks, he encourages journalists to report what is true and objective, even if it means they face potential dangers. He cites the example of journalist Huy Đức, who, despite his cleverness, was ultimately imprisoned, highlighting the unpredictable nature of the regime. Nhiên thinks that independent journalism is crucial for advancing human rights and democracy in Vietnam.
© Všechna práva vycházejí z práv projektu: Memory of Vietnamese Civil Society
Příbeh pamětníka v rámci projektu Memory of Vietnamese Civil Society (Ho Xuan Huong )